Thứ bảy 24/10/2026 14:44
Thời tiết: Hà Nội 34°C
Đà Nẵng 32°C
Cà Mau 32°C
Hải Phòng 32°C
TP Hồ Chí Minh 32°C
e-ISSN 3093-3501
Xuất nhập khẩu
aa

Nhu cầu nhập khẩu LNG tăng lên, đạt khoảng 18 tỷ m3 vào 2030

Thanh Nguyễn
(HQ Online) - Theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quy hoạch điện VIII), nhu cầu nhập khẩu khí thiên nhiên hoá lỏng (LNG) tăng lên, đạt khoảng 14-18 tỷ m3 vào năm 2030 và khoảng 13-16 tỷ m3 vào năm 2045 là cơ bản phù hợp với Nghị quyết 55-NQ/TW.
Nhu cầu nhập khẩu LNG tăng lên, đạt khoảng 18 tỷ m3 vào 2030
Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet

Tổng công suất nhà máy điện đạt 145.930 MW

Bộ Công Thương vừa gửi tới Thủ tướng Chính phủ báo cáo về rà soát một số nội dung của Quy hoạch điện VIII.

Theo đó, Quy hoạch điện VIII tính toán phương án điều hành theo kịch bản phụ tải cao có tính thêm mức dự phòng 15% công suốt nguồn điện để dự phòng trường hợp tỷ lệ thực hiện phát triển các nguồn điện lớn chỉ đạt được khoảng 85% công suốt nguồn điện theo quy hoạch.

Kết quả chương trình phát triển nguồn điện theo phương án điều hành như sau: năm 2030, tổng công suất các nhà máy điện đạt 145.930 MW (không tính điện mặt trời mái nhà và các nguồn đồng phát).

Trong đó, nhiệt điện than đạt 37.467 MW (25,7%); thuỷ điện (gồm cả thuỷ điện nhỏ) đạt 28.946 MW (19,8%); nhiệt điện sử dụng khí nội đạt 14.930 MW (10,2%); điện khí LNG đạt 23.900 MW (16,4%); điện gió trên bờ đạt 16.121 MW (11%); điện gió ngoài khơi đạt 7.000 MW (2,8%); điện mặt trời quy tập trung đạt 8.736 MW (6%); điện sinh khối và năng lượng tái tạo khác đạt 1.230 MW (0,8%); thuỷ điện tích năng và pin lưu trữ đạt 2.450 MW (1,7%).

Trong báo cáo này, Bộ Công Thương phân tích khá kỹ lưỡng các yếu tố về quy hoạch nguồn điện LNG.

Ở góc độ sự phù hợp với Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/2/2020 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Bộ Công Thương nêu rõ: tại thời điểm tính toán các vấn đề kỹ thuật phục vụ ban hành Nghị quyết 55 NQ/TW, tính toán cơ cấu nguồn điện tối ưu chưa xét đến chi phí ngoại sinh (chi phí xã hội phải gánh chịu trong quá trình phát triển điện lực).

Vì vậy, vào năm 2030 nguồn nhiệt điện than chiếm công suất lớn (khoảng 55 GW), nguồn điện khí đạt 22 GW, tổng công suất các nguồn nhiệt điện khoảng 77 GW.

Quy hoạch điện VIII đã đưa chi phí ngoại sinh vào tính toán nên quy mô của các nguồn nhiệt điện than năm 2030 giảm mạnh, đạt 37 GW, thấp hơn 18 GW so với quy mô trong Nghị quyết 55-NQ/TW, phù hợp với xu hướng phát triển của Việt Nam, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Theo Nghị quyết 55-NQ/TW, Việt Nam cần đủ năng lực nhập khẩu khoảng 8 tỷ m3 khí LNG vào năm 2030, khoảng 15 tỷ m3 khí vào năm 2045.

Khi phải giảm khoảng 18 GW điện than vào năm 2030 nhằm đáp ứng cam kết của Việt Nam tại Hội nghị COP26, Quy hoạch điện VIII đã thay thế công suất điện than này bằng khoảng 14 GW nguồn điện nền sạch hơn là điện LNG, còn lại bù bằng 12-15 GW các nguồn năng lượng tái tạo (do số giờ vận hành các dự án nguồn năng lượng tái tạo chỉ bằng khoảng 1/3 (đối với điện gió) và 1/4 (đối với điện mặt trời) so với các nguồn điện than hoặc khí).

Vì vậy, nhu cầu nhập khẩu LNG tăng lên, đạt khoảng 14-18 tỷ m3 vào năm 2030 và khoảng 13-16 tỷ m3 vào năm 2045 là cơ bản phù hợp với Nghị quyết 55-NQ/TW.

Cũng chính vì vậy, đến năm 2030 tổng công suất các nhà máy điện đạt 145.930 MW (không tính điện mặt trời mái nhà và các nguồn đồng phát) có cao hơn so với mục tiêu nêu tại Nghị quyết 55-NQ/TW (125-130 GW), nhưng phù hợp với bối cảnh phát triển mạnh mẽ năng lượng tái tạo và các nguồn điện nền sạch hơn (LNG) để đảm bảo phù hợp với cam kết của Việt Nam tại Hội nghị COP26.

Khả thi nhập LNG từ Nga, Mỹ

Ở góc độ tính khả thi nhập khẩu LNG cho phát điện của Việt Nam, Bộ Công Thương phân tích, về nhu cầu LNG toàn cầu, 5 thị trường nhập khẩu LNG hàng đầu thế giới hiện nay theo thứ tự gồm: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Đài Loan (Trung Quốc).

Theo các dự báo nhu cầu LNG của BP và TOTAL (2 công ty dầu mỏ khổng lồ của Anh và Pháp-PV), châu Á sẽ tiếp tục đứng đầu thế giới về nhu cầu LNG, chiếm tới trên 60% tổng sản lượng toàn cầu, châu Âu chiếm khoảng 20%, còn lại là các khu vực khác.

Sau khi cuộc xung đột Nga - Ukraine xảy ra, châu Âu đã bắt đầu thực hiện chính sách hạn chế nhập khẩu năng lượng từ Nga và đẩy mạnh nhập khẩu LNG từ các nước khác. Do đó, thị trường LNG thế giới hiện nay có tính cạnh tranh cao.

Australia hiện chủ yếu xuất khẩu LNG sang khu vực châu Á, nhưng sẽ dần mở rộng thị trường sang khu vực châu Âu. Hoa Kỳ dự kiến tiếp tục cung cấp khí đốt cho các thị trường ở châu Âu, châu Á, Nam và Trung Mỹ. Nga và Trung Quốc đẩy mạnh xuất nhập khẩu khí tự nhiên qua đường ống khí từ khu vực Siberia.

Theo Bộ Công Thương, trong ngắn và trung hạn, Việt Nam có thể nhập khẩu LNG từ các nước như Australia, Mỹ, Nga và Qatar do đây là những nước xuất khẩu LNG lớn nhất và có kế hoạch tăng thêm sản lượng xuất khẩu. Trong dài hạn, Việt Nam cần xem xét đa dạng hóa khả năng nhập khẩu thêm LNG từ các nước khác như Mozambique, Turkmenistan và Iran.

“Với nguồn cung ứng đa dạng của các nước trên thế giới thì khả năng nhập khẩu LNG cho các nhà máy điện với quy mô công suất 23.900 MW năm 2030 là khả thi. Thêm vào đó, Quy hoạch điện VIII cũng xem xét chuyển đổi các nhà máy điện LNG sang sử dụng hydro khi công nghệ chín muồi, khi đó sự phụ thuộc vào nhập khẩu LNG càng giảm”, Bộ Công Thương nêu rõ.

Theo mục tiêu Nghị quyết 55-NQ/TW đã nêu: “Đủ năng lực nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng LNG khoảng 8 tỷ m3 vào năm 2030 và khoảng 15 tỷ m3 vào năm 2045, tổng công suất các nguồn điện đến năm 2030 đạt khoảng 125-130 GW”.

Như vậy, nhu cầu nhập khẩu LNG và tổng công suất các nguồn điện đến năm 2030 dự kiến phát triển trong Quy hoạch điện VIII cao hơn mức nêu tại Nghị quyết 55-NQ/TW. Do đó, Bộ Công Thương kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cân nhắc sự cần thiết xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị hoặc hướng dẫn của Ban Kinh tế Trung ương về các chỉ tiêu nêu trên trước khi phê duyệt Quy hoạch điện VIII.

TỪ KHOÁ:

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Doanh nghiệp châu Âu đồng hành cùng Việt Nam trong kỷ nguyên tăng trưởng mới

Doanh nghiệp châu Âu đồng hành cùng Việt Nam trong kỷ nguyên tăng trưởng mới

Ngày 22/10, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) công bố sáng kiến Give Back to Vietnam (tạm dịch: Tri ân Việt Nam), nhằm kết nối nguồn lực và chuyên môn của doanh nghiệp châu Âu với nhu cầu thực tiễn, đồng thời phát huy tiềm năng của các cộng đồng tại Việt Nam.
Nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu cho ngành dệt may

Nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu cho ngành dệt may

Chín tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 35,72 tỷ USD, tăng 3,3% so với cùng kỳ, song tăng trưởng giữa các nhóm hàng còn phân hóa. Trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng cao, đơn hàng chưa đồng đều và yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe, nâng năng suất, chủ động nguồn cung và cải thiện hiệu quả sản xuất là những điều kiện quan trọng để ngành dệt may duy trì đà tăng trưởng. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế - Tài chính, ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), phân tích sâu hơn về triển vọng cuối năm, nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu.
Nhập khẩu tăng mạnh có thể cán mốc 600 tỷ USD

Nhập khẩu tăng mạnh có thể cán mốc 600 tỷ USD

Đến ngày 15/10/2026, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 481,37 tỷ USD, tăng 37,2% so với cùng kỳ năm 2025. Động lực đến từ máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, cùng máy móc, thiết bị và nhiều nhóm nguyên liệu. Đà tăng này mở ra khả năng nhập khẩu cả năm vượt 600 tỷ USD, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng đầu vào và giá trị gia tăng trong nước.
Phòng vệ thương mại quý III/2026: Giữ thị trường bằng năng lực ứng phó

Phòng vệ thương mại quý III/2026: Giữ thị trường bằng năng lực ứng phó

Các vụ điều tra mới, rà soát và áp thuế phòng vệ thương mại trong quý III/2026 tiếp tục đặt doanh nghiệp xuất khẩu hàng Việt Nam trước yêu cầu nâng cao năng lực ứng phó. Đồng thời, việc sử dụng công cụ phòng vệ tại thị trường nội địa cho thấy bảo vệ sản xuất phải gắn với hồ sơ đầy đủ, dữ liệu minh bạch và khả năng cạnh tranh thực chất.
Đa dạng kênh phân phối, tạo đà cho hàng Việt vươn xa

Đa dạng kênh phân phối, tạo đà cho hàng Việt vươn xa

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động, phát triển thị trường đa kênh trở thành yêu cầu cấp thiết với doanh nghiệp Việt Nam. Hội thảo do Cục Xúc tiến Thương mại tổ chức tạo diễn đàn trao đổi giải pháp, kết nối nguồn lực, củng cố đầu ra, giúp hàng hóa Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế.
Xuất khẩu hạt tiêu tăng giữa áp lực giảm giá

Xuất khẩu hạt tiêu tăng giữa áp lực giảm giá

Xuất khẩu hạt tiêu Việt Nam duy trì đà tăng trưởng nhờ lượng hàng xuất khẩu gia tăng, trong khi giá bình quân vẫn thấp hơn cùng kỳ năm trước. Áp lực giảm giá đặt ra yêu cầu nâng chất lượng, đẩy mạnh chế biến sâu và mở rộng thị trường để giữ đà tăng trưởng, cải thiện giá trị xuất khẩu.
Bài 3: Làm gì để kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2026 vượt mốc 1.000 tỷ USD

Bài 3: Làm gì để kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2026 vượt mốc 1.000 tỷ USD

Trong chặng nước rút hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số, xuất khẩu cần chuyển từ tăng trưởng về quy mô sang nâng cao chất lượng và hiệu quả. Tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, logistics, thị trường, đồng thời củng cố năng lực doanh nghiệp trong nước và gia tăng giá trị nội địa là yêu cầu then chốt để xuất khẩu bứt tốc, đóng góp bền vững cho nền kinh tế.
Nhập khẩu ô tô vượt 203.000 chiếc, nguồn cung chủ lực có sự dịch chuyển

Nhập khẩu ô tô vượt 203.000 chiếc, nguồn cung chủ lực có sự dịch chuyển

Từ đầu năm đến ngày 15/10/2026, Việt Nam nhập khẩu 203.600 ô tô nguyên chiếc, kim ngạch gần 4,7 tỷ USD, tăng 24,5% về lượng và 29,2% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, thị trường Trung Quốc vươn lên vị trí thứ hai về số lượng và giữ ưu thế về kim ngạch.
Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam còn lớn

Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam còn lớn

Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam hiện nay còn lớn, nhưng khả năng khai thác phụ thuộc vào năng lực cung ứng sản phẩm đạt chuẩn và đáp ứng yêu cầu xanh. Làm chủ vật liệu, liên kết sản xuất và xây dựng dữ liệu phát thải đang trở thành những nhiệm vụ gắn trực tiếp với sức cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu cơ khí trên thị trường quốc tế.
Ngành dệt may tăng tốc chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh

Ngành dệt may tăng tốc chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh

Trước sức ép cạnh tranh toàn cầu, chuyển đổi số trở thành yêu cầu cấp thiết với ngành dệt may Việt Nam, Hội thảo của VITAS tại HanoiTex - HanoiFabric 2026 gợi mở giải pháp từ đổi mới công nghệ đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong sản xuất, kinh doanh, giúp doanh nghiệp nâng năng suất, thích ứng thị trường và tăng sức cạnh tranh xuất khẩu.
Thương mại Việt Nam - Singapore chạm mốc 33,5 tỷ USD

Thương mại Việt Nam - Singapore chạm mốc 33,5 tỷ USD

Chín tháng năm 2026, thương mại hai chiều Việt Nam - Singapore đạt gần 42,8 tỷ SGD (tương đương khoảng 33,5 tỷ USD), tăng 46,8% so với cùng kỳ. Đà tăng trưởng cho thấy giao thương giữa hai nước tiếp tục mở rộng, đồng thời tạo thêm cơ hội để hàng hóa Việt Nam nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng và mạng lưới phân phối khu vực.
Thương mại điện tử Đông Nam Á vượt 200 tỷ USD, hàng Việt đón sóng lớn

Thương mại điện tử Đông Nam Á vượt 200 tỷ USD, hàng Việt đón sóng lớn

Thị trường thương mại điện tử (TMĐT) Đông Nam Á đang mở rộng, với doanh số vượt 200 tỷ USD và dòng chi tiêu hàng ngoại lên tới 23-24 tỷ USD. Đối với doanh nghiệp Việt Nam, đây là cơ hội để mở rộng kênh bán hàng và tiếp cận người tiêu dùng khu vực. Khả năng tận dụng cơ hội phụ thuộc vào việc lựa chọn mô hình kinh doanh phù hợp, đáp ứng yêu cầu thị trường và duy trì chất lượng sản phẩm.
Bài 2: Nhập siêu tăng mạnh và bài toán nâng giá trị gia tăng nội địa

Bài 2: Nhập siêu tăng mạnh và bài toán nâng giá trị gia tăng nội địa

Sau 9 tháng liên tiếp nhập siêu, cán cân thương mại hàng hóa tháng 9/2026 đã xuất siêu trở lại 1,27 tỷ USD. Đây là tín hiệu tích cực trong chặng nước rút cuối năm, song chưa làm thay đổi hoàn toàn bức tranh thương mại khi tính chung 9 tháng, Việt Nam vẫn nhập siêu 19,42 tỷ USD và nhập khẩu tiếp tục tăng nhanh hơn xuất khẩu. Vấn đề cần quan tâm không chỉ là trạng thái của cán cân thương mại, mà còn là khả năng chuyển hóa dòng hàng đầu vào phục vụ sản xuất và yêu cầu về nâng cao năng lực cung ứng nội địa để đạt được giá trị gia tăng cao hơn.
Chuyển đổi xanh giúp doanh nghiệp cơ khí tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Chuyển đổi xanh giúp doanh nghiệp cơ khí tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Chuyển đổi xanh không còn là xu hướng khuyến khích mà đang trở thành yêu cầu tất yếu đối với doanh nghiệp cơ khí - điện, khi các tiêu chuẩn về môi trường, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm trong chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng khắt khe.
Xuất khẩu sang Singapore theo quy trình chứng nhận nhập khẩu mới

Xuất khẩu sang Singapore theo quy trình chứng nhận nhập khẩu mới

Trong bối cảnh xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore tăng trưởng mạnh, việc Hải quan Singapore cập nhật quy trình Chứng nhận nhập khẩu và Xác minh giao hàng (ICDV) đặt ra yêu cầu doanh nghiệp chủ động kiểm soát chứng từ, phối hợp với đối tác và tuân thủ thời hạn xử lý hồ sơ. Đây là yếu tố quan trọng nhằm hạn chế nguy cơ chậm thông quan, phát sinh chi phí và bảo đảm hoạt động xuất khẩu thông suốt.