e magazine
14:52 | 13/04/2026
EMAGAZINE: Tái định vị chính sách thuế góp phần dẫn dắt tăng trưởng hai con số và nuôi dưỡng nguồn thu bền vững

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số gắn với ổn định vĩ mô, chính sách thuế được xác định không chỉ là công cụ thu ngân sách mà còn đóng vai trò điều tiết, dẫn dắt và tạo động lực cho nền kinh tế. Việc cải cách theo hướng linh hoạt, mở rộng cơ sở thu, giảm ưu đãi dàn trải và thúc đẩy chuyển đổi số sẽ là chìa khóa để vừa hỗ trợ doanh nghiệp, vừa bảo đảm nguồn thu bền vững trong dài hạn.

Tạp chí Kinh tế - Tài chính phỏng vấn TS. Nguyễn Như Quỳnh, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Kinh tế - Tài chính (Bộ Tài chính) xung quanh vấn đề này.

Tại Kết luận Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV do Tổng Bí thư Tô Lâm ký đã nêu rõ quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các Nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư để phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng “hai con số” gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Theo ông, vai trò của hệ thống thuế cần được nhìn nhận như thế nào để góp phần thực hiện mục tiêu này?

Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới phát triển nhanh, bền vững đất nước, phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, đồng thời cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân thì hệ thống thuế cần được tái định vị không chỉ là công cụ thu ngân sách, mà còn là một trong các công cụ chính sách góp phần điều tiết vĩ mô và dẫn dắt tăng trưởng.

Theo đó, hệ thống thuế phải bảo đảm tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách nhà nước, qua đó duy trì dư địa tài khóa để đầu tư cho hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển dịch năng lượng và các động lực tăng trưởng mới.

Bên cạnh đó, hệ thống thuế góp phần phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế thông qua cấu trúc thuế (GTGT, TTĐB, bảo vệ môi trường…) để điều chỉnh hành vi tiêu dùng, đầu tư theo hướng nâng cao năng suất và giá trị gia tăng. Đây là điều kiện nền tảng để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10% nhưng vẫn kiểm soát lạm phát và ổn định vĩ mô.

EMAGAZINE: Tái định vị chính sách thuế góp phần dẫn dắt tăng trưởng hai con số và nuôi dưỡng nguồn thu bền vững

Bên cạnh đó, hệ thống thuế có thể đóng vai trò là công cụ điều tiết linh hoạt theo chu kỳ kinh tế.

Trong ngắn hạn, có thể sử dụng các biện pháp như giảm, giãn thuế để hỗ trợ doanh nghiệp và kích cầu; ngược lại, khi cần thiết có thể điều chỉnh thuế, phí để kiểm soát lạm phát và ổn định thị trường. Vai trò này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động như hiện nay.

Cùng với đó, chính sách thuế góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Chính sách thuế đồng hành gắn với quá trình tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh và bền vững, thông qua các công cụ như thuế môi trường, nhưng với lộ trình phù hợp để không gây các cú sốc chi phí cho sản xuất. Chính sách thuế góp phần khuyến khích phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm tạo động lực cho việc phát triển và ứng dụng các công nghệ tiên tiến, công nghiệp nền tảng và các ngành có tính lan tỏa cao.

Từ định hướng tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách tài chính - ngân sách, ông đánh giá những nội dung nào của chính sách thuế cần được ưu tiên điều chỉnh?

Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị Trung ương 2 về phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, đầu tư công, vay, trả nợ công giai đoạn 2026 - 2030 đã nêu rõ nhóm nhiệm vụ giải pháp về tài chính quốc gia, trong đó nhấn mạnh: nâng cao chất lượng nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, tăng tính bền vững của nền tài chính quốc gia; xây dựng hệ thống thuế hiện đại, minh bạch, vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước; hạn chế tối đa việc lồng ghép chính sách xã hội trong chính sách thuế, bảo đảm tính trung lập của hệ thống thuế; không mở rộng ưu đãi thuế đặc thù ở địa phương; chuyển thu hút FDI từ ưu đãi thuế sang ưu đãi khác, ưu đãi theo kết quả; và cho phép Chính phủ chủ động điều chỉnh thuế, phí trong trường hợp khẩn cấp.

Từ định hướng của Kết luận 18-KL/TW, tôi cho rằng các nội dung chính sách thuế cần ưu tiên như sau:

Thứ nhất: Hoàn thiện cơ chế điều hành linh hoạt đối với các sắc thuế gián thu liên quan đến xăng dầu và đầu vào sản xuất. Chính sách này tác động trực tiếp đến lạm phát, chi phí logistics, chi phí sản xuất và tâm lý thị trường. Thực tế năm 2026, Chính phủ đã dùng công cụ thuế rất mạnh như: Quyết định số 482/QĐ-TTg ngày 26/3/2026 áp dụng mức thuế bảo vệ môi trường, GTGT và TTĐB đối với xăng dầu trong thời gian ngắn từ ngày 26/3 đến hết 15/4/2026; đồng thời đang đề xuất miễn một số loại thuế với xăng dầu đến hết 30/6/2026 và kéo dài việc giảm thuế nhập khẩu ưu đãi xăng dầu, nguyên liệu sản xuất xăng dầu về 0% đến 30/6/2026.

Điều này cho thấy trọng tâm trước mắt không phải là thay đổi lớn về cấu trúc thuế suất chuẩn, mà là thiết kế một cơ chế “ổn định hóa theo tình huống” rõ tiêu chí kích hoạt, rõ thời hạn, rõ đánh giá tác động để phản ứng nhanh khi giá thế giới biến động.

Thứ hai: Rà soát chính sách ưu đãi thuế và ưu đãi thu hút FDI. Trong bối cảnh Việt Nam đã triển khai cơ chế thuế Tối thiểu toàn cầu theo Nghị quyết số 107/2023/QH15 (áp dụng từ năm tài chính 2024), đồng thời Luật thuế TNDN số 67/2025/QH15 có hiệu lực từ 1/10/2025 và Nghị định số 236/2025/NĐ-CP tạo lập khung khổ pháp lý để xử lý đồng bộ mối quan hệ giữa thuế TNDN truyền thống và các quy định về Trụ cột II của thuế tối thiểu toàn cầu. Thực tế này đòi hỏi một cuộc rà soát căn bản về chính sách thu hút FDI.

Vì vậy, phần cần ưu tiên điều chỉnh thu hẹp ưu đãi dàn trải; lượng hóa rõ điều kiện nhận ưu đãi sau đầu tư; gắn ưu đãi với chuyển giao công nghệ, R&D, liên kết chuỗi nội địa, đào tạo lao động, trung tâm đổi mới sáng tạo, chứ không chủ yếu gắn với địa bàn hay quy mô vốn đăng ký như trước.

Thứ ba: Mở rộng cơ sở thu, giảm lồng ghép mục tiêu xã hội trong chính sách thuế, qua đó tăng tính trung lập của hệ thống thuế. Từ góc độ cải cách, nội dung cần điều chỉnh không phải chỉ là tăng hay giảm thuế suất, mà là rà soát, cắt giảm các trường hợp ngoại lệ; tách bạch rõ các loại ưu đãi nên xử lý bằng chi ngân sách trực tiếp, trợ cấp có mục tiêu hoặc chính sách an sinh, thay vì đẩy vào ưu đãi thuế. Cũng theo logic đó, các cơ chế đặc thù của địa phương nên tập trung vào tạo nguồn thu mới, không nên tiếp tục cạnh tranh bằng ưu đãi thuế vượt khung.

Thứ tư: Hiện đại hóa quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, thương mại điện tử và kinh tế số. Đây là mảng có thể tạo hiệu quả kép: vừa giảm thất thu, vừa tạo sân chơi bình đẳng giữa khu vực chính thức và phi chính thức. Năm 2026, Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 sẽ có hiệu lực từ 1/7/2026, trong khi một số quy định về hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và hóa đơn điện tử đã được kích hoạt sớm. Trong thời gian tới, cần chuẩn hóa dữ liệu doanh thu; kết nối dữ liệu nền tảng số, ngân hàng, hóa đơn; cải tiến cơ chế khấu trừ, kê khai đơn giản cho nhóm nhỏ. Đây là khâu rất quan trọng để vừa tăng thu, vừa không phải tăng thuế suất danh nghĩa.

Thứ năm: Hoàn thiện các sắc thuế gắn với chuyển đổi xanh, nhưng theo lộ trình ổn định. Tại Kỳ họp ngày 12/4, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về thuế bảo vệ môi trường, thuế GTGT, thuế TTĐB đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay, có hiệu lực thi hành từ 16/4/2026 đến hết ngày 30/6/2026. Theo đó, quy định mức thuế bảo vệ môi trường là 0 đồng/lít; thuế suất thuế TTĐB đối với xăng các loại là 0%; xăng, dầu và nhiên liệu bay thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT nhưng được khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Qua đó cho thấy chính sách thuế không chỉ là công cụ định hướng dài hạn mà còn đóng vai trò “bộ giảm sốc” trong điều hành kinh tế vĩ mô khi giá năng lượng thế giới biến động.

Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra là thiết kế các sắc thuế liên quan đến môi trường và năng lượng theo hướng hai tầng: (i) về dài hạn, cần xây dựng lộ trình thuế rõ ràng, ổn định, phù hợp với mục tiêu chuyển đổi xanh, giảm phát thải và cơ cấu lại nguồn thu ngân sách; (ii) về ngắn hạn, cần duy trì cơ chế điều chỉnh linh hoạt, có tiêu chí kích hoạt cụ thể, bảo đảm khả năng phản ứng chính sách kịp thời mà không làm xói mòn tính nhất quán của hệ thống thuế. Điều này cũng phù hợp với định hướng tại Kết luận 18-KL/TW về việc cho phép Chính phủ chủ động điều chỉnh thuế, phí trong các tình huống cần thiết.”

Trong bối cảnh yêu cầu “nuôi dưỡng nguồn thu” được đặt ra, chính sách thuế cần thay đổi ra sao để vừa tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp, vừa đảm bảo tính bền vững của ngân sách?

“Nuôi dưỡng nguồn thu” là một cách tiếp cận chiến lược trong cải cách thuế. Theo đó, Nhà nước nên ưu tiên hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp, hộ kinh doanh phát triển sản xuất - kinh doanh, để góp phần kích thích đầu tư, tăng trưởng kinh tế, từ đó tạo ra nguồn thu thuế lớn hơn, ổn định hơn trong trung và dài hạn.

Trong thời gian tới, để thực sự “nuôi dưỡng nguồn thu”, chính sách thuế cần tiếp tục điều chỉnh theo một số định hướng trọng tâm.

Trước tiên, cần chuyển mạnh từ giảm thuế suất sang mở rộng cơ sở thuế và nâng cao hiệu quả thu. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các mô hình kinh doanh mới như thương mại điện tử, nền tảng số phát triển nhanh. Việc quy định rõ nguyên tắc “thu nhập phát sinh tại Việt Nam phải nộp thuế tại Việt Nam” là một bước tiến quan trọng, cần tiếp tục hoàn thiện và thực thi hiệu quả để bảo đảm công bằng và chống thất thu.

Tiếp đến tái cấu trúc chính sách ưu đãi thuế theo hướng có trọng tâm, gắn với các ngành động lực mới. Thay vì ưu đãi dàn trải, cần tập trung vào các lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng cao như công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, trung tâm dữ liệu và kinh tế xanh. Đồng thời, ưu đãi thuế nên được thiết kế theo hướng ngắn hơn, có điều kiện rõ ràng và gắn với kết quả thực tế, phù hợp với xu hướng quốc tế.

Cuối cùng, tiếp tục duy trì nhưng cần chuẩn hóa cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp thông qua miễn, giảm, gia hạn thuế theo tính chu kỳ. Các chính sách như giảm thuế GTGT, giảm thuế Bảo vệ môi trường, gia hạn nộp thuế… đã chứng minh hiệu quả trong giai đoạn khó khăn. Tuy nhiên, trong dài hạn, cần có cơ chế đánh giá và có lộ trình chấm dứt hiệu lực của các chính sách ưu đãi phù hợp để tránh kéo dài hỗ trợ làm suy giảm nguồn thu ngân sách.

Như vậy, để “nuôi dưỡng nguồn thu”, chính sách thuế cần đạt được sự cân bằng giữa hai mục tiêu: nới lỏng có kiểm soát trong ngắn hạn để hỗ trợ doanh nghiệp và củng cố nền tảng thu ngân sách trong dài hạn thông qua mở rộng cơ sở thu, nâng cao hiệu quả quản lý và định hướng lại ưu đãi thuế. Khi doanh nghiệp phát triển bền vững, quy mô nền kinh tế được mở rộng, thì nguồn thu ngân sách cũng sẽ được nuôi dưỡng một cách tự nhiên và ổn định hơn.

Định hướng đẩy mạnh chuyển đổi số được nhấn mạnh trong các nghị quyết gần đây. Theo ông, ngành Thuế cần có những bước đi nào để thích ứng hiệu quả hơn? Đồng thời, làm thế nào để công tác quản lý thuế vừa minh bạch, hiện đại, vừa phù hợp với yêu cầu cải cách thể chế trong giai đoạn mới?

Các nghị quyết gần đây, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, theo đó chuyển đổi số được nhấn mạnh là đột phá chiến lược, yếu tố tiên quyết và thời cơ cốt lõi để phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Trọng tâm chuyển đổi số chuyển sang giai đoạn nhanh hơn, hiệu quả hơn, và gắn liền với người dân.

Tại Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030, chuyển đổi số cũng là một trong những trụ cột then chốt nhằm hướng tới mô hình quản lý thuế hiện đại, minh bạch và lấy người nộp thuế làm trung tâm.

Quá trình này tập trung tự động hóa, ứng dụng AI trong quản lý rủi ro, kết nối dữ liệu dân cư, và đẩy mạnh dịch vụ thuế điện tử (như eTax Mobile) để nâng cao hiệu quả thu ngân sách.

Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 của Quốc hội được ban hành ngày 10/12/2025 đánh dấu bước ngoặt lịch sử khi chuyển từ quản lý thuế truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu số. Luật đẩy mạnh tự động hóa, tích hợp dữ liệu dân cư, quản lý chặt chẽ thương mại điện tử và ứng dụng AI nhằm tối ưu hóa nguồn thu, giảm chi phí tuân thủ. Sự thay đổi này không chỉ nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước mà còn giúp người dân và doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế nhanh chóng, minh bạch.

Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả những quy định mới về quản lý thuế, ngành Thuế cần tiếp tục đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng công nghệ để xây dựng một hệ sinh thái dữ liệu thông minh, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và Big Data trong việc phân tích rủi ro, tự động hóa quy trình kê khai và phát hiện gian lận hóa đơn.

Mặt khác, nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ và thay đổi tư duy phục vụ, lấy người nộp thuế làm trung tâm để xây dựng một hệ thống thuế hiện đại, minh bạch và bền vững trong kỷ nguyên số.

Công tác quản lý thuế theo đó cũng cần hướng tới mô hình thuế điện tử toàn trình, trong đó người nộp thuế có thể thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thông qua môi trường số. Quan trọng hơn nữa, quá trình chuyển đổi số phải gắn với cải cách thể chế, đảm bảo các quy định pháp luật phù hợp với phương thức quản lý mới, đồng thời bảo vệ dữ liệu và quyền lợi của người nộp thuế.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Thúy Nga - Trần Ánh